Đôi lúc cha mẹ sẽ thấy con nói được nhưng sao vẫn được chẩn đoán là trẻ tự kỷ. Thực tế, khó khăn về ngôn ngữ là một trong những dấu hiệu nổi bật nhất ở trẻ tự kỷ. Trẻ có xu hướng nói từ đơn giản, câu ngắn, đảo lộn ngữ pháp và khả năng giao tiếp còn nhiều hạn chế. Bài viết này Trung tâm Nhân Hòa xin chia sẻ giúp cha mẹ hiểu rõ đặc điểm ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ tự kỷ để phụ huynh có hướng hỗ trợ con đúng cách.

Những đặc điểm ngôn ngữ của trẻ tự kỷ
Trẻ tự kỷ thường gặp khó khăn trong phát triển ngôn ngữ và giao tiếp xã hội. Một số trẻ chậm nói, một số khác có nói nhưng cách dùng từ ngữ kì lạ (nói nhảm, linh tinh), nhại lời người khác hoặc nói một mình không đúng ngữ cảnh. Ở một số trẻ tự kỷ mức độ nặng có thể không có ngôn ngữ.
Nhiều trẻ tự kỷ gặp trở ngại ở các khía cạnh như: ngữ pháp, từ vựng, âm thanh, cách dùng từ và hiểu ngôn ngữ trừu tượng. Trẻ cũng có thể không hiểu lời nói ẩn dụ, hài hước hoặc cách trò chuyện qua lại.
Giao tiếp không điển hình cũng là một trong những đặc điểm ngôn ngữ thường thấy ở trẻ tự kỷ. Một số trẻ có năng khiếu ngôn ngữ tốt (điểm ngôn ngữ cao). Trẻ có thể ghi nhớ từ ngữ tốt, sáng tạo trong cách dùng ngôn ngữ, đặc biệt khi nói về sở thích riêng. Bên cạnh đó, một số trẻ phải dùng tranh ảnh hay thiết bị hỗ trợ để giao tiếp diễn đạt hiệu quả. Mỗi trẻ thể hiện khác nhau, nhưng giao tiếp, tương tác qua lại luôn là một phần cần được hỗ trợ.

Đặc điểm ngôn ngữ chậm phát triển
Khả năng ngôn ngữ của trẻ tự kỷ thường phát triển chậm hơn nhiều so với trẻ đồng trang lứa. Nhiều trẻ có thể không nói được hoặc chỉ phát triển ngôn ngữ ở mức rất hạn chế.
Ví dụ: Trong khi trẻ bình thường 12-18 tháng tuổi đã có thể nói được vài từ đơn, trẻ tự kỷ có thể đến 3-4 tuổi vẫn chưa nói được từ nào hoặc chỉ biết lặp lại một vài từ đơn giản.
Các đặc điểm chậm ngôn ngữ thường gặp:
- Trẻ ít hoặc không phát âm các âm thanh từ 6-9 tháng tuổi
- Không bập bẹ hoặc phát triển bập bẹ nhưng sau đó mất đi
- Không đáp ứng khi được gọi tên (từ 9 tháng tuổi trở lên)
- Không nói được từ đơn ở 16-18 tháng tuổi
- Không kết hợp được hai từ thành câu đơn giản ở 24 tháng tuổi
- Ở trẻ lớn hơn, khả năng ngôn ngữ hiểu và diễn đạt cũng gặp nhiều hạn chế
Sự khác biệt trong cách sử dụng từ vựng
Trẻ tự kỷ thường có cách tiếp cận và sử dụng từ vựng khá đặc biệt. Cách sử dụng từ vựng của trẻ tự kỷ thường có những đặc điểm nổi bật sau:
- Thường hiểu nghĩa đen của từ ngữ mà không nắm bắt ý nghĩa ẩn dụ
- Khó khăn trong việc mở rộng ý nghĩa của từ sang các ngữ cảnh khác nhau
- Có thể nhớ và lặp lại những từ phức tạp nhưng không hiểu nghĩa
- Thường sử dụng từ vựng theo cách máy móc, thiếu linh hoạt
Ví dụ: Trung tâm Nhân Hòa đã từng tiếp nhận một trường hợp trẻ tự kỷ đặc biệt tốt trong khả năng đọc và nói. Bé K. chỉ mới 3 tuổi nhưng bé đã có thể đọc trôi chảy các chữ trên tờ báo hay tạp chí mà bé nhìn thấy. Bé cầm tờ báo và đọc hết tất cả các chữ bé nhìn thấy, tuy nhiên bé lại không hiểu bất cứ nghĩa nào của những chữ bé vừa đọc, bé cũng không ghi nhớ và kể lại được thông tin bé vừa đọc. Hiện tại, Trung tâm can thiệp theo hình thức tập cho bé nhiều cử chỉ, biểu cảm để bé sử dụng cùng với lời nói, chuyển cơ hội nói của bé thành những tình huống có nghĩa và đúng ngữ cảnh. Bé hiện tại sau 6 tháng can thiệp đã có thể trả lời câu hỏi đơn giản và kể được một số thông tin mà bé đã trải qua.
Đặc điểm giao tiếp của trẻ tự kỷ
Giao tiếp không chỉ là ngôn ngữ lời nói mà còn bao gồm nhiều yếu tố phi ngôn ngữ. Trẻ tự kỷ thường gặp khó khăn ở cả hai phương diện này.
Khó khăn trong việc bắt chước và tương tác
Bắt chước là kỹ năng nền tảng để trẻ học ngôn ngữ và các hành vi xã hội. Trẻ tự kỷ thường gặp trở ngại lớn trong việc bắt chước hành động và âm thanh của người khác.
Các đặc điểm chính về khó khăn bắt chước ở trẻ tự kỷ:
- Không hoặc ít bắt chước các cử chỉ đơn giản như vẫy tay chào, vỗ tay
- Không thể bắt chước các âm thanh hoặc từ ngữ của người khác
- Không tham gia vào các trò chơi đòi hỏi bắt chước như “ú òa”
- Không có phản ứng khi người khác gọi tên hoặc nói chuyện với trẻ, câu nói hoặc trả lời thường ngắn gọn, ít ương tác
Với những nét đặc trưng này, Trung tâm Nhân Hòa thường áp dụng những trò chơi tương tác để giúp trẻ học cách bắt chước và từ đó từng bước phát triển các kỹ năng ngôn ngữ lời nói – diễn đạt và cử chỉ không lời.
Thiếu giao tiếp bằng mắt và cử chỉ
Giao tiếp bằng mắt và cử chỉ là nền tảng của giao tiếp xã hội, nhưng trẻ tự kỷ thường thiếu kỹ năng này một cách đáng kể.
Biểu hiện điển hình:
- Ít hoặc không có giao tiếp bằng mắt khi nói chuyện hoặc chơi cùng người khác
- Ít sử dụng hoặc hiểu các cử chỉ thông thường như chỉ tay, gật đầu, lắc đầu
- Không kết hợp ánh mắt với cử chỉ (ví dụ: trẻ chỉ nhìn vào đồ vật để yêu cầu người lớn, đưa đồ cho người khác nhưng không nhìn mắt nhau)
- Khó khăn trong việc hiểu biểu cảm khuôn mặt của người khác
Cha mẹ có thể sẽ thường thấy trẻ của mình khi muốn uống nước sẽ kéo tay người lớn đến tủ lạnh nhưng không nhìn mắt, không chỉ tay hoặc không phát ra âm thanh để yêu cầu cha mẹ lấy nước. Đây là đặc điểm giao tiếp rất cơ bản thường gặp ở trẻ tự kỷ.

Đặc điểm về lời nói của trẻ tự kỷ
Khi nói đến lời nói, trẻ tự kỷ thường có những đặc điểm khác biệt dễ nhận thấy so với trẻ phát triển bình thường.
Trẻ chậm nói và không bày tỏ cảm xúc
Không chỉ chậm nói, trẻ tự kỷ còn gặp khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ để thể hiện cảm xúc và nhu cầu của mình.
Đặc điểm nổi bật:
- Không sử dụng từ ngữ để bày tỏ cảm xúc như vui, buồn, sợ hãi
- Không biết cách yêu cầu giúp đỡ bằng lời nói
- Ít hoặc không bày tỏ sự quan tâm đến người khác thông qua lời nói
- Biểu hiện cảm xúc không phù hợp với tình huống
- Ít tương tác giao tiếp và khó hòa nhập với bạn bè
Vì những thiếu hụt này nên trong quá trình can thiệp sớm tại Trung tâm Nhân Hòa, chúng tôi ưu tiên dạy trẻ cách bày tỏ nhu cầu cơ bản bằng những cử chỉ, điệu bộ, nét mặt trước khi chuyển sang các kỹ năng ngôn ngữ phức tạp hơn như là dùng lời nói. Điều này giúp trẻ thấy được giá trị của giao tiếp, giúp trẻ nhìn nhận giao tiếp vui và hiệu quả. Từ đó, trẻ sẽ hứng thú hơn trong giao tiếp.
Xu hướng nói lặp lại lời nói hoặc sử dụng ngôn ngữ không chính xác
Đặc điểm nổi bật trong lời nói của trẻ tự kỷ là xu hướng nhại lời (echolalia) và sử dụng ngôn ngữ không phù hợp với ngữ cảnh.
Biểu hiện cụ thể:
- Lặp lại ngay lập tức những gì vừa nghe (VD: khi hỏi “con tên gì”, bé nói lại “con tên gì”
- Lặp lại câu nói hoặc đoạn hội thoại đã nghe trước đó (lặp lại muộn)
- Nói theo quảng cáo TV hoặc đoạn phim hoạt hình
- Sử dụng đại từ không chính xác (nói “bạn” thay vì “con” hoặc “tôi”)
Ví dụ: Khi hỏi “Con có muốn ăn bánh không?”, thay vì trả lời “có” hoặc “không”, trẻ tự kỷ có thể lặp lại nguyên câu “Con có muốn ăn bánh không?”. Đây là hiện tượng nhại lời rất phổ biến ở trẻ tự kỷ.
Đặc điểm về cấu trúc câu, diễn đạt của trẻ tự kỷ
Đặc điểm về cấu trúc câu trong ngôn ngữ lời nói của trẻ tự kỷ cũng được ghi nhận nhiều thiếu sót. Ở một số trẻ thường chỉ nói câu đơn giản 2 – 3 từ, chưa biết nói câu dài để diễn đạt ý, đôi khi còn bị đảo lộn vị trí các từ trong câu. Do đó cần hỗ trợ để trẻ diễn đạt lời nói tốt hơn.
Cấu trúc câu đơn giản và thiếu linh hoạt
Ngay cả khi trẻ tự kỷ có thể nói, cấu trúc câu thường đơn giản và thiếu sự linh hoạt cần thiết trong giao tiếp hàng ngày.
Đặc điểm nổi bật:
- Sử dụng chủ yếu các câu đơn, ngắn gọn, thiếu đại từ hoặc từ nối
- Khó khăn khi sử dụng từ chỉ thời gian (hôm qua, hôm nay, ngày mai)
- Thường bỏ qua các từ chức năng (giới từ, liên từ)
- Sắp xếp từ trong câu không đúng trật tự ngữ pháp
Nhiều trẻ tự kỷ thường nói các câu ngắn như “nước uống” thay vì “con muốn uống nước”. Việc dạy trẻ cấu trúc câu đầy đủ cần được thực hiện một cách hệ thống và kiên nhẫn.
Khó khăn trong việc hiểu và sử dụng ngữ nghĩa
Trẻ tự kỷ thường gặp trở ngại trong việc hiểu ý nghĩa sâu xa của ngôn ngữ, đặc biệt là các khái niệm trừu tượng.
Khó khăn phổ biến:
- Hiểu nghĩa đen của các thành ngữ, tục ngữ
- Khó phân biệt các từ có nghĩa tương đồng
- Không nhận ra cùng một từ có thể có nhiều nghĩa khác nhau
- Khó khăn trong việc hiểu các khái niệm trừu tượng như thời gian, cảm xúc

Đặc điểm về giao tiếp xã hội của trẻ tự kỷ
Đặc điểm khó khăn trong giao tiếp xã hội là biểu hiện thường gặp ở trẻ tự kỷ. Thể hiện qua khó khăn trong giao tiếp mắt, hiểu các tín hiệu xã hội qua lời nói và phi ngôn ngữ (chỉ tay, ánh mắt, biểu cảm khuôn mặt). Nhiều trẻ khó bắt đầu, tham gia và duy trì cuộc trò chuyện qua lại. Trẻ cũng có thể không hiểu được ngôn ngữ cơ thể và ý nghĩa của các tông giọng khác nhau.
Đặc điểm “Khó khăn dai dẳng trong giao tiếp xã hội và tương tác xã hội trong nhiều bối cảnh” cũng là một trong những tiêu chí chẩn đoán tự kỷ.
Khó khăn trong việc hiểu ngữ điệu và ngữ cảnh
Một trong những đặc điểm giao tiếp ngôn ngữ của trẻ tự kỷ thường gặp là khó khăn trong việc hiểu ngữ điệu, giọng điệu và ngữ cảnh giao tiếp, khiến việc tương tác xã hội trở nên phức tạp.
Đặc điểm thể hiện khó khăn trong giao tiếp
- Không nhận ra sự thay đổi trong giọng điệu biểu thị cảm xúc khác nhau
- Khó phân biệt giữa câu hỏi, mệnh lệnh hoặc phát biểu thông thường
- Không hiểu khi nào nên nói nhỏ, nói to trong các tình huống khác nhau
- Khó khăn trong việc hiểu hài hước, châm biếm hoặc mỉa mai
Vấn đề trong việc duy trì cuộc hội thoại
Duy trì cuộc hội thoại đòi hỏi nhiều kỹ năng xã hội mà trẻ tự kỷ thường thiếu hụt nghiêm trọng.
Khó khăn chính:
- Không biết cách bắt đầu hoặc kết thúc cuộc hội thoại phù hợp
- Khó chuyển đổi chủ đề một cách tự nhiên
- Thường nói nhiều về chủ đề yêu thích mà không quan tâm đến phản ứng của người nghe
- Không biết khi nào đến lượt mình nói, thường ngắt lời người khác
Phụ huynh thường nhận xét rằng con mình “nói một mình” hoặc “không quan tâm người khác nghĩ gì” khi trò chuyện. Đây là đặc điểm phổ biến của trẻ tự kỷ có ngôn ngữ tốt nhưng sự giao tiếp qua lại ko phù hợp.
Điều trị vấn đề ngôn ngữ và giao tiếp ở trẻ tự kỷ.
Với đặc điểm trẻ tự kỷ thường gặp khó khăn trong ngôn ngữ và giao tiếp. Một số trẻ không biết nói, một số khác biết nói nhưng lại không dùng ngôn ngữ đúng cách. Để giúp trẻ, bước đầu tiên là đánh giá đúng vấn đề. Việc nhận biết đúng đặc điểm ngôn ngữ của trẻ tự kỷ và phân loại giúp cho quá trình trị liệu đúng hướng và áp dụng các phương pháp can thiệp phù hợp.
Can thiệp sớm là phương pháp hiệu quả hiệu quả để phát triển khả năng ngôn ngữ. Khi trẻ còn nhỏ – trong giai đoạn mẫu giáo – là thời điểm vàng. Các bài tập vận động môi miệng khi còn nhỏ cũng rất hữu ích cho khả năng ngôn ngữ lời nói của trẻ. Ngoài ra, chương trình can thiệp trị liệu cần được cá nhân hóa, phù hợp với độ tuổi và sở thích.
Tại Nhân Hòa, chúng tôi không chỉ dạy lời nói, mà còn dạy kỹ năng giao tiếp như nhìn mắt, bắt chước, cử chỉ hay tương tác xã hội để trẻ từng bước phát triển cả về ngôn ngữ và giao tiếp. Để nâng cao hiệu quả, ngoài giáo viên can thiệp thì cha mẹ và gia đình cũng cần tham gia tích cực. Khi trẻ được hỗ trợ liên tục hằng ngày sẽ tiến bộ nhanh hơn.

Lời kết
Hiểu đúng về đặc điểm ngôn ngữ của trẻ tự kỷ và những khó khăn trong giao tiếp ở trẻ là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong hành trình hỗ trợ con phát triển. Mỗi trẻ tự kỷ đều có những đặc điểm và khó khăn riêng biệt, vì vậy cần có sự đánh giá chuyên sâu và kế hoạch can thiệp cá nhân hóa.
Trung tâm Nhân Hòa luôn sẵn sàng đồng hành cùng phụ huynh trong việc đánh giá, can thiệp và phát triển ngôn ngữ, giao tiếp cho trẻ tự kỷ. Với sự hỗ trợ đúng hướng và kịp thời bởi giáo viên chuyên môn, trẻ có cơ hội phát triển tối đa tiềm năng ngôn ngữ của mình.
Tài liệu tham khảo:
- Vogindroukas, A., Chatzistefanou, E., Papanikolaou, K., & Kapreli, E. (2022). Language and Speech Characteristics in Autism. PMCID: PMC9578461
- National Institute on Deafness and Other Communication Disorders. (2024). Autism Spectrum Disorder: Communication Problems in Children.
- Texas Health and Human Services. (n.d.). Module 3: Common communication characteristics of individuals with autism spectrum disorder (ASD).

















